| |
Ga Đồng Giao
(Mục
lục)
Tư
liệu cũ cho hay: “Nhờ vào 2 đợt công trái 1912-1913 và tiền
bồi thường chiến tranh của Đức, cho phép Pháp nối đường sắt
hai đoạn phía Bắc - đường sắt Hà Nội - Vinh và miền Trung:
Tourane - Huế - Đông Hà”, căn cứ vào tư liệu trên đây thì
ga Đồng Giao có thể được xây dựng vào khoảng thời gian từ
1913-1915. Tôi đoán chừng thế.
Ga Đồng Giao đứng ở một vùng đất dữ, cũng là vùng đất hiểm.
Dữ dằn ở chỗ: những khu rừng rậm quanh ga thường có hổ đêm
đêm bắt lợn, bò, trâu. Và có khi cả ban ngày như con hổ thọt
chỗ núi Một, bắt những người đi kiếm củi, hái chè. Lại còn
là vùng nước độc nữa. “Đến Đồng Giao xanh xao ốm chết”, đó
là câu nói cửa miệng của mấy ông kíp xe lửa - xưa gọi là “phu
đường sắt”, vẫn ăn cơm hàng do bà mẹ tôi nấu ở chợ Ghềnh.
Đồng Giao là đất hiểm: xung quanh là núi rừng, chỗ Dốc Xây,
phía Bắc là Đền Dâu, phía Nam là Đền Sòng, đường rừng âm u,
hoang vắng lắm. Ông anh ruột tôi, ban ngày vẫn nhắc lại cái
câu ông Tưởng - một “phu xe lửa” nói vui: “Chớ đùa với dốc
Đồng Giao, vừa dài, vừa hiểm, vừa cao, vừa quành”.
Ga Đồng Giao xây hai tầng. Ban ngày thưa khách, ban đêm le
lói ánh đèn dầu. Chập tối, nhân viên trực rút lên tầng hai,
còn tầng dưới thì đóng cửa chặt, cài then ngang bằng những
thanh gỗ lim to như bắp tay các lực sỹ. Cẩn thận thế vì sợ
bị ông Ba mươi đến thăm. Nhà ga đứng đấy, chói lọi cái nắng
cái mưa suốt bốn mùa. Và, nhà ga đón những con tàu ì ạch lên
dốc, “tàu thở” như đứt hơi. Đoàn tàu nào đến Ga Ghềnh cũng
phải dừng lại để nhận thêm một đầu máy nối vào toa sau cùng
của đoàn tàu rồi chạy máy đẩy tàu leo dốc.
Ga miền rừng trong đánh Pháp thì chở lương thực, phần lớn
là khoai sắn, mấy loại củ rừng. Đánh Mỹ, ga Đồng Giao là loại
gan lỳ, xứng danh là dũng sĩ. Chỗ Đền Dâu, gần nhà ga là “Túi
lửa”. Ngày 25-3-1967, máy bay Mỹ đánh trúng một đoàn tàu chở
lương thực, vũ khí sắp vào đến khu vực ga, tự vệ nông trường
Đồng Giao, công nhân nhà ga xông vào lửa cháy cứu hàng, khênh
vác vũ khí đến chỗ an toàn.
Xin nói thêm về vùng đất Ga Đồng Giao “ngày xửa ngày xưa”,
chỗ nhà ga, chỗ Dốc Xây..., quân nghĩa của Hai Bà Trưng, rồi
Bà Triệu từng đóng đồn ở đây. Chỗ đất này, cũng từng in dấu
chân vua Trần - Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và các tướng
nhà Trần: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,
rồi Lê Lợi, Quang Trung. Trước đó là dấu chân Lê Đại Hành,
ông vua mở đầu nhà Tiền Lê.
Ga Đồng Giao đứng trên vùng đất thiêng, gần ngay cổ họng Kẽm
Đỏ và lũng Quang Trung. Danh sĩ Ngô Thì Nhậm đã có thơ về
vùng đất này:
Bao la tầm mắt núi quây quần
Cửa Đỏ trời ngăn đi Cửu chân
Thiên cổ núi nguyên hình vẻ cũ
Lưu truyền cảnh đẹp với muôn xuân
Đồng
Giao hiểu theo nghĩa hẹp là: “nơi cùng bạn bè, người bốn phương
giao kết”. Định nghĩa này rất đúng với nhà ga Đồng Giao vì
nơi đây:
Đón
đưa du khách bốn phương
Vào Nam ra Bắc trên đường giao lưu
Ga rừng nhưng chẳng quạnh hiu
Ban mai suối hát, xế chiều chim ca.
Tạ
Hữu Yên
|